Lăng mộ tập thể chứa hàng ngàn hài nhi và câu chuyện về người đàn ông kỳ dị với duyên nợ đặc biệt cùng cõi âm, nguyện trọn đời làm việc thiện nguyện vì những sinh linh xấu số.
Sinh ra ở vùng đất ven biển Nghĩa Thắng (Nghĩa Hưng, Nam Định), cũng như bao chàng trai khác, ông Bao sống bằng nghề đi biển. Ông Bao nổi tiếng với nghề câu cá vược ở các vùng cửa sông. Không rõ có phải ông có duyên nợ với cõi âm không, mà hầu như năm nào ông cũng câu được xác chết.
Cửa Đáy rộng mênh mông, là một nhánh của sông Hồng chảy từ Ninh Bình về. Những xác chết trên hành trình từ thượng nguồn đổ ra biển thi thoảng lại móc vào lưỡi câu hoặc lưới của ông. Ngư dân gặp xác chết thường sợ xui xẻo, mang tiếng cướp cơm của Hà Bá, nên thường thả cho xác chết trôi tiếp. Riêng ông Bao không sợ Hà Bá. Gặp xác chết ông liền vớt lên bờ, gọi công an đến khám nghiệm, rồi tự tay ông mai táng cho người ta đàng hoàng, theo đúng thủ tục.
Hiện giờ, ở bãi cát ven cửa Đáy, vẫn còn vài chục nấm mồ hoang, toàn là xác chết trôi do ông vớt được. Những vật dụng đi theo nạn nhân như ví, giấy tờ, móc khóa xe ông giữ… đầy tủ. Cái nào có thông tin rõ ràng, thì ông thông báo cho người nhà đến nhận, cái nào không rõ thì ông cứ cất trong tủ, phòng khi có người đến hỏi, nếu trùng khớp thì ông chỉ mộ cho họ cải táng về.

Duyên nợ với xác chết
Nghề đi biển mỗi ngày một khó, cá mú mỗi ngày một cạn, không có tàu đi xa thì chỉ có nước lên bờ cày cấy. Cách đây 30 năm, ông Bao cũng bỏ thuyền lên bờ lấy vợ, vui vẻ với mấy sào ruộng. Mặc dù vậy, nếu có xác chết trôi nổi ngoài sông, có người gọi, ông đều ra tay nghĩa hiệp. Tất nhiên, công việc này là thiện tâm, chẳng được lợi lộc gì.
Là người bạo dạn trước cái chết, nên cha xứ vời ông giúp nhà thờ làm công việc của một thủ hối (còn gọi là trùm kẻ liệt) ở giáo xứ Quần Vinh. Mỗi khi có người lâm trọng bệnh, có thể không qua khỏi, ông lại xuất hiện bên họ để đọc kinh, trò chuyện, giúp người sắp ra đi được an lành, thanh thản. Trùm kẻ liệt được giáo xứ bầu ra theo nhiệm kỳ 5 năm một lần, làm việc hoàn toàn thiện nguyện. Tuy nhiên, con chiên xứ đạo thấy ông làm tốt, nên đã 6 lần bầu thì 6 lần ông trúng cử với số phiếu 100%.
Ông bảo:
“Dân tín nhiệm bầu mình vì đặt niềm tin vào mình trong việc chăm sóc phần hồn cho dân chúng, mà mình không làm thì còn ra thể thống gì nữa. Chắc mình phải làm cái công việc này cho đến lúc về với Chúa thôi”.
Bà Vũ Thị Hiên, vợ ông Bao có khuôn mặt tươi vui, đôi mắt như biết nói, rất hay cười. Bà bảo, chồng bà như bóng ma trong nhà. Lắm lúc ở bên chồng mà không rõ có phải chồng mình không, hay người nhà giời phái xuống nhập vào xác hành ông ấy làm những công việc không rõ của thiên đàng hay địa phủ. Ông Bao làm việc tối ngày, chẳng kể giờ giấc, đông hè, mưa nắng. Hễ có người gọi là ông lóc cóc đạp xe lên đường. Lúc thì đi vớt xác, an táng cho người chết trôi ngoài sông, ngoài biển, nửa đêm lọ mọ dậy bảo đi bốc mộ, rồi vắng nhà có khi cả tháng để đi chăm sóc người sắp chết.
Có những cụ già nằm liệt giường cả năm trời, thi thoảng lại lên cơn như sắp chết, ông Bao buộc phải ở cạnh để an ủi họ. Trước lúc họ chết, con cháu có thể vắng, nhưng người chăm sóc phần hồn, đưa họ về với Chúa thì không thể thiếu được. Từ công việc trùm kẻ liệt này, ông tiện tay giúp luôn gia chủ làm các công việc liên quan đến “hậu cái chết” như khâm liệm, mai táng, rồi công đoạn cuối cùng là sang cát cho toàn bộ giáo xứ Quần Vinh cũng như vùng lân cận.
Điều đặc biệt nhất là ông Bao không bao giờ nhận một đồng, một trinh tiền công hoặc tiền bồi dưỡng. Toàn bộ việc làm này đều xuất phát từ cái tâm. Bà Hiên, vợ ông thì gọi cái việc ông làm là “giời đày”.
Bà nói vui: – Chắc kiếp trước ông ấy làm nhiều điều xấu, nên kiếp này ông giời hành hạ để trở nợ ấy mà.
Còn ông thì cười bảo: – Giời nào đày được ta đây. Ta làm việc thiện là để tích đức cho con cháu!

Ám ảnh hài nhi
Kể về công việc kỳ quặc là thu gom, làm tang lễ cho các hài nhi xấu số, ông Bao bắt đầu câu chuyện từ cái ngày cách nay 4 năm:
“Hôm ấy rỗi rãi, tôi ra bờ sông tiêu câu cá rô cho vui. Tưởng cá to dính lưỡi, ai ngờ kéo lên bịch nilon màu đen to tướng. Nhìn bịch nilon buộc chặt, rất cẩn thận, không biết là cái gì, tôi tò mò mở ra, thì lạnh cả sống lưng. Nói thật, cả đời tôi tiếp xúc với xác chết, thậm chí thối rữa, rồi xương cốt dính nguyên thịt, nhưng tôi không sợ bằng cái lần ấy. Một bọc nilon toàn là xác hài nhi. Những đứa bé có đầy đủ tay chân, tóc tai, chả khác gì những con chuột con, lợn con. Đứa to dễ đến hơn cân, đứa bé bằng ngón tay cái. Người theo đạo chúng tôi tuyệt đối cấm chuyện phá thai, coi đó là tội lỗi tày trời, là giết người man rợ, nên trông thấy cảnh đó tôi hãi lắm”.
Với người công giáo, khi mầm sống hình thành trong bụng, thì đã là một con người. Con người chết đi, thì đều được khâm liệm đúng thủ tục, linh hồn mới siêu thoát, mới về với Chúa được. Chính vì thế, ông Bao đã làm lễ khâm liệm, mai táng đàng hoàn cho những thai nhi bị bỏ trôi sông ấy.
Vụ việc vớt được một bọc hài nhi cứ ám ảnh ông Bao mãi. Suy nghĩ về những hài nhi bị thả trôi sông không thể dứt ra khỏi đầu ông. Ông Bao quyết định làm một việc kì quặt, ấy là cứ sáng sớm, ông lại đi bộ dọc bờ sông, bắt đầu từ hạ nguồn lên. Điều kì lạ là ngày nào ông cũng vớt được ít nhất một bọc nilon đen chứa hài nhi nhỏ xíu. Phạm vi tìm kiếm cứ ngược thượng nguồn kéo dần về phía thị trấn Đông Bình.
Quyết tâm thức trọn một đêm ở ven sông đoạn giáp thị trấn, và cuối cùng ông đã biết được “thủ phạm” trút những hài nhi này xuống sông, đó là bà H. Bà H. vốn là bác sĩ khoa sản của bệnh viện huyện Nghĩa Hưng. Sau khi về hưu, bà mở một trung tâm chữa bệnh riêng. Tuy nhiên, công việc chủ yếu của bà là nạo hút thai. Làm thủ công, giá rẻ, nhanh chóng, tuyệt đối bí mật, nên chị em khắp huyện kéo về nhờ bà phá bỏ thai nhi. Mỗi ngày bà H. đều loại bỏ vài thai nhi xấu số. Bà ta không làm thủ tục chôn cất, mà cho vào túi nilon đen, rồi chờ đêm xuống ném thẳng ra dòng sông Tiêu. Các hài nhi xấu số không làm mồi cho cá sông, cá biển, thì cũng làm mồi cho chuột bọ, chó mèo. Ngẫm đến thân phận những hài nhi xấu số, lòng ông Bao quặn thắt, ông quyết tâm giúp linh hồn những sinh linh bé bỏng được siêu thoát.
Ông Bao gặp cha xứ ở giáo xứ Quần Vinh đề đạt nguyện vọng làm “tang lễ” cho các hài nhi xấu số và đã được cha xứ hết lòng ủng hộ. Cha xứ quyết định cấp tiểu sành, “quan tài” là những bát hương với số lượng theo yêu cầu cho ông Bao làm công việc âm thầm mà đặc biệt này. Từ đó, ông Bao không đi dọc sông vớt hài nhi nữa, mà ông đến trực tiếp khoa sản của các bệnh viện, các trung tâm sản khoa để đề đạt nguyện vọng đem các hài nhi về mai táng.
Những ngày đầu, hành động của ông được cho là quái gở, nên người ta xua đuổi. Tuy nhiên, ông cứ kiên trì gặp bác sĩ, y tá nói về niềm tin của người công giáo với linh hồn thai nhi. Nói riết rồi cũng có một số nơi đồng ý cung cấp thai nhi bị loại bỏ cho ông, chủ yếu là các cơ sở tư nhân. Các bệnh viện Nhà nước, trạm xá thường ngại ngùng, sợ rắc rối nên không hợp tác. Thai nhi nhỏ thì họ trút bừa xuống cống rãnh, hoặc tống vào thùng rác như phế phẩm bệnh viện, còn thai nhi lớn thì họ thuê người chôn bừa bãi như chôn con chuột, con mèo chết dịch rất thương tâm.

Sự đồng hành và hành trình đầy trắc trở
Là đàn ông, đi làm công việc liên quan đến sinh sản nên rất bất tiện. Đúng lúc đó thì xuất hiện sự trợ giúp của bà Hương, là người hàng xóm. Bà Hương đến với công việc này cũng rất tình cờ. Bà làm hàng xén, tức bán hàng tạp hóa ngoài chợ huyện. Một lần, sáng sớm dọn hàng, thấy có bọc nilon đen vứt cạnh thùng rác, ruồi bu kín mà hình như bên trong túi nilon có con gì đang động đậy. Tò mò, bà Hương mở túi. Bà suýt lăn đùng ra ngất khi thấy một hài nhi to như con lợn con đang giãy giụa, mắt mở thao láo nhìn bà. Bà Hương khóc rống lên. Bà bế đứa bé về tắm rửa, đổ từng giọt sữa cho bé ăn. Tuy nhiên, chỉ vài tiếng sau bé ngừng giãy đạp và ngừng thở. Đôi mắt cứ trừng trừng nhìn bà. Ông Bao biết chuyện liền tìm đến mang cháu về, làm lễ rửa tội, xức nước thánh và đặt tên cho cháu. Xong xuôi, ông cho cháu vào quan tài gỗ nhỏ xíu do ông tự đóng, rồi đêm xuống đem cháu ra nghĩa địa mai táng.
Trước đó, việc làm của ông Bao hoàn toàn bí mật, không ai trong làng ngoài xã biết cả. Lúc đấy bà Hương cũng mới biết ông Bao âm thầm làm công việc mai táng thai nhi từ nhiều tháng nay. Thấy ông Bao vất vả, lại làm việc nghĩa, bà Hương cảm động nên đã tình nguyện giúp đỡ ông Bao. Là đàn bà, nên việc đến các cơ sở sản khoa lấy thai nhi rất thuận tiện. Hễ cơ sở nào chuẩn bị nạo hút thai, họ lại điện cho bà Hương đến lấy. Thai nhi vừa được hút ra, bà Hương liền đem về cho ông Bao làm lễ mai táng.
Việc làm của ông Bao dần dần cũng được các cơ sở nạo phá thai hiểu đúng và họ hợp tác nhiệt tình. Nhiều cơ sở cử người mang thai nhi đến tận nhà cho ông Bao. Họ cứ đến, treo lên cây nhãn trước nhà, rồi lặng lẽ đi luôn, không để ai biết. Có lần, một người treo thấp quá, con chó nhà ông lôi xuống, ăn hết thai nhi. Chẳng biết ông Bao kể có khách quan không, nhưng đêm ấy, bỗng dưng con chó nhà ông phát điên, cứ tru tréo suốt đêm, khiến cả làng rùng rợn, không ai ngủ được. Đêm nằm, ông Bao còn nghe thấy tiếng trẻ con than khóc. Sớm hôm sau, ông làm lễ cầu an cho các linh hồn cháu bé, rồi giết con chó đem chôn. Ông làm chiếc hòm tôn như hòm thư đóng lên cây nhãn. Người mang hài nhi đến bỏ vào trong chiếc hòm tôn cho an toàn.
Ngày nào cũng vậy, khi người dân say giấc nồng, ông Bao lại đem các hài nhi ra mé làng làm các nghi lễ theo công giáo để linh hồn các hài nhi thanh thản. Xong các nghi lễ, ông đặt các hài nhi vào chiếc tiểu sành, rồi lấp tạm đất lại. Khi nào tiểu sành chứa đầy các thai nhi, thì ông cải táng vào nghĩa địa của xứ đạo Quần Vinh. Dù việc làm của ông hết sức bí mật, âm thầm, song cuối cùng cũng bại lộ.
Người dân trong xóm phản đối ghê lắm. Họ không muốn ông đem các thai nhi về làng mai táng, việc đó chẳng khác nào rước thêm ma về làng. Làm ma cho các cháu ngoài đồng không được, ông đem các hài nhi vào nhà kho của nhà dòng. Tuy nhiên, được một thời gian, nhân dân ở cạnh đó cũng phát hiện và “biểu tình” phản đối. Ông chuyển việc làm ma và gom giữ các hài nhi sang nhà đòn cũng không được chấp nhận. Bí quá, ông rước hết hài nhi về chái nhà mình.
Hành động đem hài nhi về nhà mình làm tang ma khiến cả gia đình ông phản đối. Người phản đối mạnh mẽ nhất là vợ ông. Tuy nhiên, ông cứ ì ra, mặc vợ ca thán. Bà Hiên kêu ca mãi rồi cũng chán. Sau thấy việc làm của ông có ý nghĩa, thì cũng mặc kệ. Riêng cậu con khi lấy vợ về, đã mua mảnh đất nơi khác rồi dựng tạm ngôi nhà nhỏ để ở, vợ chồng không dám về nữa. Từ ngày biết ông đem hài nhi về nhà cất giữ, làng xóm xa lánh hẳn, không ai dám đến nhà ông. Bọn trẻ con trong làng nhìn thấy ông Bao thì chạy mất. Trẻ con hư, cha mẹ thường lấy ông Bao ra dọa.
Khát vọng thức tỉnh tính nữ và lòng trắc ẩn
Thấy việc mua tiểu sành chôn cất hài nhi vừa tốn kém tiền bạc, lại tốn kém diện tích đất chôn, nên ông Bao đã xây hai lăng mộ to tướng để an táng hài nhi. Hai lăng mộ này có khả năng chứa được hàng trăm ngàn hài nhi xấu số. Hai lăng mộ dù chưa hoàn thiện, nhưng đã ngốn của ông 20 triệu đồng. Đang làm thì hết tiền, nên cánh cửa chưa có, chưa trát ximăng bên trong và nền móng, nên mỗi trận mưa lớn, nước lại tràn đầy vào trong mộ.
Việc làm của ông Vũ Xuân Bao trong con mắt người dân xứ đạo Quần Vinh, dù đã trải qua 4 năm, song vẫn là kỳ quặc, kinh dị, gây cảm giác ghê sợ. Tuy nhiên, nhiều người đã hiểu và thông cảm với việc làm của ông. Đã có nhiều cô gái, nhiều bà mẹ trót lỡ lầm, phải phá bỏ thai nhi, đã tìm ra hai ngôi mộ kia thắp hương, khấn vái, khóc lóc ghê gớm lắm.
Nhìn thấy lăng mộ to tướng giữa cánh đồng, nhìn thấy hài nhi xếp chồng chất trong mộ, con người sẽ biết sợ, biết trân trọng sự sống, mà quyết tâm không phạm sai lầm. Đó là mong ước lớn nhất của ông Bao khi dựng lên hai lăng mộ tập thể chôn cất hài nhi này. Ý nghĩa đó thật đáng trân trọng.
Hết…
– Nhà báo Phạm Ngọc Dươ1ng –
Xem phần 1: https://phamngocduong.vn/ngoi-mo-khong-lo-di-nhan-va-cuoc-an-tang-rung-ron-phan-1/




